VIDEO GIỚI THIỆU

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 400016

Trùng tu di tích Chùa Ông Nhiêu - Một công trình kiến trúc gắn với sự ra đời Đô thị Quy Nhơn

               UBND thành phố Quy Nhơn vừa khởi công mở rộng mặt bằng quy hoạch khu vực bảo vệ và trùng tu di tích Chùa Ông Nhiêu. Công trình có tổng mức đầu tư trên 5,7 tỷ đồng, gồm 4 hạng mục: chánh điện, nhà cổng, nhà quản lý và nhà vệ sinh, hệ thống tường rào cổng ngõ, sân vườn. Tổng diện tích mở rộng, trùng tu hiện nay là 1.218m2.
              Hơn 1 thế kỷ (từ 1471 – 1611) vùng đất Bình Định là miền biên viễn của Đại Việt, có rất nhiều di tích lịch sử - văn hóa gắn liền với quá trình người Việt định cư lập làng sinh sống và hình thành các đô thị, hầu hết các di tích ấy đã bị chiến tranh và thời gian làm mai một. Rất may, có một di tích xác định sự hình thành đô thị Quy Nhơn đã được xếp hạng và đang được trùng tu: Di tích chùa Ông Nhiêu (Đền Quan Thánh).
             Chùa Ông Nhiêu thuộc thôn Vĩnh Khánh, tổng Tuy Hà, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn (ngày nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, TP. Quy Nhơn). Thôn Vĩnh Khánh là một làng cổ lâu đời của thành phố Quy Nhơn. Không có tài liệu nào nói về năm ra đời và quá trình phát triển của thôn Vĩnh Khánh, nhưng di vật còn lại cổ xưa nhất của thôn vĩnh Khánh là chiếc Khánh của chùa Long Khánh làm năm Kỷ Mùi (1739). Từ thôn Vĩnh Khánh đã thành lập nên làng hai làng Chánh Thành và Cẩm Thượng, cư dân thành phố Quy Nhơn được khởi đầu từ đó.
 
(Phối cảnh mặt đứng trùng tu Chùa Ông Nhiêu)
1. Dấu ấn một đô thị cổ:
                 Bảo tàng tổng hợp Bình Định hiện đang lưu giữ tấm bia ghi công đức những người đóng góp tiền xây dựng chùa Ông Nhiêu năm 1837, bằng gỗ (1,35m x 0,6m), khắc chìm chữ Hán. Tấm bia ghi công đức của 141 đơn vị cá nhân cúng với số tiền 415 quan, trong đó 91,5% là thuyền hộ và 8,5% là các viên chức nhà nước và hiệu buôn. Thuyền hộ người Hoa chỉ chiếm tỷ lệ 8% mà thôi. Hiệu buôn Phát Tài cúng 2 quan tiền, các xí nghiệp như Lê Văn Thu cúng 3 quan, Lê Văn Chẩn cúng 5 quan, quan Tổng Đốc Bộ đường cúng 100 quan, Cai trưởng Ngô Văn Phóng cúng 100 quan và là người chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng.
               Tấm bia công đức mở đầu như sau: “Thái tử Thiếu bảo Hiệp biện Đại học sĩ lãnh binh Bình - Phú Tổng đốc họ Võ, cùng Phố trưởng Trần Đức Hiệp, Cai trưởng Ngô Văn Phóng ở ấp Chánh Lộc, thôn Vĩnh Khánh, tổng Tuy Hà, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn thành tâm ăn chay niệm Phật để xây miếu Quan Thánh đế quân. Ngày mồng một tháng ba năm Đinh Dậu (1837) bắt đầu khởi công xây dựng..”
             Từ những thông tin cho chúng ta biết rằng: Nơi đây đã diễn ra một quá trình tụ cư lâu dài hàng trăm năm trước đó, thuở còn địa danh thôn Vĩnh Khánh. Đầu thế kỷ XIX, thôn Vĩnh Khánh trở thành vùng đất quan trọng của Bình – Phú (Bình Định - Phú Yên), điều đó thể hiện bởi sự có mặt của quan Tổng đốc Bình - Phú họ Võ (Võ Xuân Cẩn nhậm chức Tổng đốc Bình – Phú năm 1833 đến năm 1839 về kinh nhậm chức Thượng Thư Bộ Hình, quản Đô Sát Viện, kiêm Tổng tài Quốc Sử quán, soạn Đại Nam thực lục) trong việc xây dựng ngôi đền Quan Thánh đế quân tại thôn Vĩnh Khánh vào năm 1837.
                Mặt khác, nội dung tấm bia cho chúng ta biết được thời điểm năm 1837, Quy nhơn đã hình thành đô thị thương nghiệp với nhiều hiệu buôn, nhiều chủ thuyền và nhiều quan chức Nhà nước tham gia hoạt động thương mại. Tất cả các luồng thuyền buôn đều quy tụ về đây đã tập trung một đội ngũ thương nhân đông đảo, phố chợ ra đời, đô thị Quy Nhơn cũng được xác lập bởi chức danh Phố trưởng mà viên thị trưởng lúc đó có tên là Trần Đức Hiệp.
                Như vậy, đây không phải là một ngôi đền bình thường do các viên chức và bô lão của một thôn làng đóng góp xây dựng mà là ngôi đền mang tầm vóc của Tổng Bình – Phú, do viên quan Tổng đốc Đại thần đại diện của triều đình đứng ra tổ chức xây dựng cùng quan phụ trách thuyền bè, buôn bán là Cai trưởng Ngô Văn Phóng. Đặc biệt có Phố trưởng Quy Nhơn là Trần Đức Hiệp chịu trách nhiệm chính việc xây dựng đền. Chức danh phố trưởng ở Quy Nhơn là chức danh đặt cho một cơ chế quản lý đô thị dưới Triều Nguyễn lần đầu tiên tìm thấy ở Quy Nhơn và cũng là chức danh duy nhất trong cơ chế quản lý Nhà nước triều Nguyễn. Điều đó chứng minh rằng vào đầu thế kỷ XIX, Quy Nhơn đã xác lập đô thị với một cơ chế quản lý đặc biệt của triều Nguyễn đặt cho vùng này với chế độ tự trị, tự lập trong quản lý Nhà nước, xã hội và kinh doanh.
2. Hồi sinh cho di tích:
                 Chùa Ông Nhiêu (Đền Quan Thánh) ngoài giá trị văn hóa, tín ngưỡng còn có giá trị lớn về mặt lịch sử, tuy nhiên trải qua gần 200 năm gắn bó với quá trình phát triển đô thị Quy Nhơn, di tích đã đối mặt với bao thăng trầm của lịch sử. Quá trình xây dựng, tu sửa chùa hiện nay không còn tư liệu, di vật nào ghi lại ngoài tấm bia công đức nêu trên, nhưng theo các cụ cao niên trong vùng cho biết: Chùa đã có vài lần tu sửa, lần tu sửa lớn nhất là vào khoảng năm 1960. Đầu những năm 1980, khuôn viên chùa bị thu hẹp, sân trước chùa giao cho Xí nghiệp đông lạnh, một phần đất sau chùa xây nhà làm việc của Xí nghiệp nước ngọt ( nay là Xí nghiệp nước khoáng Chánh Thắng). Đến năm 1985, chùa không còn sinh hoạt tín ngưỡng, các tượng thờ và đồ thờ tự trong chùa thất tán. Năm 2002, chùa Ông Nhiêu được xếp hạng di tích cấp tỉnh, với diện tích khu vực bảo vệ I là 922,32m2.
               Trong những năm 2008, 2009 và 2011, UBND thành phố Quy Nhơn đã đầu tư gần 300 triệu đồng chống mối mọt, tu bổ, gia cố chống xuống cấp di tích và di dời một số tượng thờ ở Quảng Đông Hội quán về chùa Ông Nhiêu. Hiện nay, không gian tâm linh chùa Ông Nhiêu đã được phục hồi nghiêm trang bằng nguồn kinh phí xã hội hóa của bà con hảo tâm và do nhân dân tự quản.
                Về mặt kiến trúc, chùa Ông Nhiêu là một công trình kiến trúc cổ dân gian truyền thống của người Việt điển hình ở miền Trung còn tìm thấy trên đất Quy Nhơn./.
                                                                                                                                          (Nguyễn Thanh Quang)

Tin cùng chuyên mục: